Truy cập nội dung luôn

 TÌM KIẾM

PHÂN TÍCH SWOT MẶT HÀNG ĐIỀU TẠI VIỆT NAM (PHẦN 1)

12/8/2020

 

 

Điều là một trong những cây trồng mũi nhọn của nông sản Việt Nam. Từ một nước chỉ trồng điều và xuất khẩu điều thô, Việt Nam đã hiện đại hoá công nghệ chế biến điều, mở rộng thị trường xuất khẩu trên 90 quốc gia và vùng lãnh thổ, trở thành nước có kim ngạch xuất khẩu điều nhân số một, chế biến đứng thứ hai và giữ vị trí thứ ba thế giới về năng suất và sản lượng điều. Ngành điều đem lại giá trị kinh tế lớn và góp phần giải quyết công ăn việc làm cho hàng triệu nông dân và công nhân, đặc biệt là ở các vùng kinh tế khó khăn.

 

Chế biến điều Việt Nam phần lớn dựa trên nguồn nguyên liệu nhập khẩu. Việc mở rộng quá mức quy mô chế biến trong khi diện tích trồng đang dần bị thu hẹp do chuyển đổi cây trồng có thể đẩy ngành điều Việt Nam vào tình trạng thiếu hụt nguyên liệu trầm trọng trong tương lai gần. Bảng dưới đây sẽ phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của ngành điều Việt Nam

 

                            Bảng: Phân tích SWOT ngành điều

 

Điểm mạnh

Điểm yếu

  • Điều kiện tự nhiên, khí hậu của nhiều vùng ở Việt Nam phù hợp cho sản xuất điều;
  • Được thị trường thế giới ưa chuộng nhờ chất lượng chế biến được đánh giá cao;
  • Năng suất sản xuất cũng như năng lực chế biến của Việt Nam cao hơn các nước xuất khẩu chính khác như Ấn Độ, Braxin;
  • Việt Nam nắm giữ công nghệ về thiết bị sử dụng trong sản xuất, chế biến điều như công nghệ bóc vỏ lụa, cắt tách tự động;
  • Người nông dân cần cù, chăm chỉ;
  • Chính phủ quan tâm và đầu tư xây dựng thương hiệu ngành thực phẩm Việt Nam, trong đó lựa chọn điều là ngành thí điểm xây dựng và quảng bá thương hiệu ngành hàng;
  • Hiệp hội ngày càng đóng vai trò quan trọng: Hiệp hội điều Việt Nam đã ký kết hợp tác với một số hiệp hội các nước trồng điều lớn tại Châu Phi, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam khi có các tranh chấp phát sinh, cũng như giúp giảm tình trạng giao hàng không đúng hẹn, hoặc chất lượng không đảm bảo.
  • Mất cân đối giữa năng lực chế biến và nguồn nguyên liệu, phụ thuộc lớn vào nhập khẩu điều thô từ các quốc gia khác;
  • Chất lượng sản phẩm chưa đồng đều, vẫn còn nhiều vấn đề về vệ sinh an toàn thực phẩm;
  • Chưa được đầu tư một cách có hệ thống, phát triển manh mún, rời rạc, nhiều doanh nghiệp quy mô nhỏ, cạnh tranh không lành mạnh;
  • Thiếu sự hợp tác liên kết chặt chẽ, liên kết giữa các khâu gieo trồng, chế biến và tiêu thụ còn lỏng lẻo;
  • Trình độ nhận thức của người nông dân còn có những hạn chế với tập quán sản xuất cũ;
  • Giống và công nghệ trong canh tác còn yếu;
  • Còn tồn tại vấn đề gian lận thương mại, cạnh tranh gay gắt trong thu mua nguyên liệu nên việc kiểm soát chất lượng không đảm bảo, pha trộn nguyên liệu chất lượng kém.

Cơ hội

Thách thức

  • Việt Nam gia nhập WTO từ năm 2007, đã và đang tham gia các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương (như Hiệp định ASEAN – Nhật Bản, ASEAN – Hàn Quốc, ASEAN – Trung Quốc, ASEAN – Australia/ New Zealand, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU, Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương...), tham gia Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)... Đây là những cơ hội lớn để mở rộng thị trường và tận dụng những ưu đãi;
  • Trình độ khoa học công nghệ ngày càng phát triển tạo cơ hội nâng cao năng lực sản xuất và chế biến điều;
  • Trong quá trình phát triển, đội ngũ doanh nhân đã trưởng thành, nhiều doanh nghiệp hàng đầu trong ngành phát triển tốt;
  • Nhà nước rất coi trọng nông nghiệp và nông thôn, nhất là đầu tư cho công tác khuyến nông, ban hành nhiều cơ chế chính sách hỗ trợ;
  • Nhu cầu tiêu thụ của ngành điều thế giới liên tục tăng, thị trường điều thế giới có tiềm năng phát triển tốt, đặc biệt tại các nước phát triển. Hạt điều hiện được đánh giá là loại hạt được ưa chuộng tại các quốc gia có thu nhập cao, có cơ hội sánh ngang với hạt hạnh nhân trở thành hạt có lượng tiêu thụ lớn nhất thế giới do ngày càng có những báo cáo khoa học chứng minh lợi ích đối với sức khỏe con người của hạt điều và các loại hạt khác;
  • Giá điều Việt Nam trên thị trường thế giới khá cạnh tranh và có xu hướng tăng;
  • Công tác giống ngày càng được chú trọng, tạo ra các giống điều cao sản mới;
  • Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chế biến được thắt chặt, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển bền vững;
  • Đa dạng hoá thành phẩm điều tinh chế.
  • Tốc độ tăng trưởng của nguồn cung điều hàng năm chỉ đạt 3,5%/năm, trong khi nhu cầu tiêu dùng tăng trưởng 6%/năm. Như vậy, ngành điều thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đối mặt với tình trạng cầu vượt cung, dẫn đến giá điều tăng trong vài năm trở lại đây;
  • Các thị trường nhập khẩu có yêu cầu khắt khe hơn về chất lượng sản phẩm. Các hàng rào kỹ thuật về đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và tiêu chuẩn kỹ thuật đối với điều ở các thị trường lớn ngày càng tăng;
  • Nguy cơ giảm quy mô vùng nguyên liệu trong nước do nhiều diện tích điều bị thoái hoá hoặc bị chuyển đổi sang cây khác như cao su, cà phê, hồ tiêu... có hiệu quả kinh tế cao hơn, hoặc chuyển sang mục đích sử dụng phi nông nghiệp;
  • Ngành điều vẫn chưa có một thương hiệu đủ mạnh để có thể tạo dựng một hình ảnh tốt trên thị trường thế giới;
  • Rủi ro thanh toán và giao hàng, nhất là đối với thị trường Bờ Biển Ngà và Châu Phi khi các đối tác thiếu tôn trọng hợp đồng (trì hoãn việc giao hàng để ép giá hay gian lận về chất lượng), khi tranh chấp xảy ra rất khó xử lý... Doanh nghiệp được khuyến cáo không ứng tiền trước cho đối tác, mà thực hiện các giao dịch thông qua mở thư tín dụng (L/C) thông qua ngân hàng;
  • Thời tiết và sâu bệnh diễn biến bất thường và phức tạp;
  • Cạnh tranh trên thị trường nội địa sẽ tiếp tục gia tăng với việc một số tập đoàn lớn của Úc, Thái Lan, Hàn Quốc cũng đang hợp tác đầu tư vào chế biến sâu trong ngành điều;
  • Sức ép cạnh tranh lớn từ các nước xuất khẩu chính, đặc biệt trong các khâu chế biến điều có giá trị gia tăng cao;
  • Các quốc gia xuất khẩu điều thô trực tiếp cho Việt Nam đặc biệt là từ Châu Phi có xu hướng chuyển hướng xây dựng công nghiệp chế biến điều tại chỗ.

 

Tin cùng chuyên mục: